Thư viện trường Tiểu học Hoành Sơn
Hưởng ứng tuần lễ học tập suốt đời - Câu chuyện "Mother's scar"
Hướng dẫn sơ cấp cứu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Trần Thị Tuyền
Ngày gửi: 21h:01' 14-08-2024
Dung lượng: 33.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: st
Người gửi: Trần Thị Tuyền
Ngày gửi: 21h:01' 14-08-2024
Dung lượng: 33.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
BỘ Y TẾ
BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VỤ GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TÀI LIỆU
HƯỚNG DẪN SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU TAI NẠN
THƯƠNG TÍCH THƯỜNG GẶP Ở TRẺ EM, HỌC SINH
(Tài liệu tập huấn cho nhân viên y tế, cán bộ quản lý, giáo viên của cơ sở giáo dục)
HÀ NỘI, 2022
CHỦ BIÊN:
PGS.TS.Trần Minh Điển – Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương
THAM GIA BIÊN SOẠN:
TS.BS. Lê Ngọc Duy – Trưởng khoa Cấp cứu chống độc,
Bệnh viện Nhi Trung ương
BSCKII. Nguyễn Tân Hùng – Phó Trưởng khoa Cấp cứu
chống độc, Bệnh viện Nhi Trung ương
BSCKII. Phạm Thị Thanh Tâm – Phó trưởng khoa Cấp cứu
và Chống Độc, Bệnh viện Nhi Trung ương
PGS.TS. Trương Thị Mai Hồng – Khoa Cấp cứu và Chống
Độc, Bệnh viện Nhi Trung ương
TS. BS. Phạm Ngọc Toàn - Khoa Cấp cứu và Chống Độc,
Bệnh viện Nhi Trung ương
TS. BS. Đỗ Minh Loan – Giám đốc trung tâm Chỉ đạo tuyến,
Bệnh viện Nhi Trung ương
Ths.BS. Trịnh Tuấn Anh - Khoa Cấp cứu và Chống Độc,
Bệnh viện Nhi Trung ương
Ths. Lê Xuân Tùng – Cán bộ trung tâm Chỉ đạo tuyến, Bệnh
viện Nhi Trung ương
2
CHUYÊN GIA TƯ VẤN BIÊN SOẠN:
TS. Nguyễn Nho Huy, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục thể chất,
Bộ GDĐT
TS. Phùng Khắc Bình, Nguyên Vụ trưởng Vụ Công tác HSSV,
Bộ GDĐT
ThS. Đoàn Thị Thu Huyền, Giám đốc quốc gia tại Việt Nam,
Tổ chức Campaign For Tobacco Free Kids (Chương trình
Vận động Chính sách Y tế toàn cầu), Hoa Kỳ.
ThS. Phạm Văn Tịnh, Chuyên viên chính Vụ Giáo dục
Thể chất, Bộ GDĐT
THƯ KÝ:
Ths. Lê Xuân Tùng
3
LỜI NÓI ĐẦU
Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), mỗi năm trên toàn cầu có khoảng
5,8 triệu trường hợp tử vong do tai nạn thương tích. Tai nạn thương tích
(TNTT) là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, chiếm
10% tổng số ca tử vong trên thế giới, nhiều hơn 32% so với số ca tử vong
do sốt rét, bệnh lao và HIV/AIDS cộng lại. Ngoài ra, hàng chục triệu
trường hợp cần chăm sóc và điều trị do TNTT không chủ đích gây ra,
nhiều trường hợp trong số đó bị tàn tật suốt đời. Khoảng 90% trường
hợp tử vong do TNTT xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.
TNTT không chỉ gây tổn thương về sức khỏe mà còn tạo ra gánh nặng
kinh tế đối với các quốc gia. Tại Mỹ, ước tính tổng chi phí cho TNTT trong
năm 2000 là 80,2 tỉ đô la Mỹ. Trong số đó, gần một nửa số chi phí này
liên quan đến TNTT do ngã và khoảng 1/5 chi phí này là do tai nạn giao
thông (TNGT).
Ở Việt Nam trong những thập kỷ gần đây, sự phát triển kinh tế và
xã hội nhanh chóng ở cũng là yếu tố làm cho vấn đề TNTT ngày càng
nghiêm trọng và là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử
vong và tàn tật ở trẻ em. Theo báo cáo năm 2019 của Bộ Y tế, ước tính
mỗi ngày có tới 3.600 trường hợp gặp tai nạn thương tích, 90 người tử
vong. Trong đó, tai nạn giao thông và đuối nước là nguyên nhân hàng
đầu gây tử vong. Đuối nước là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất ở trẻ
em dưới 19 tuổi, cướp đi mạng sống của hơn 3.000 trẻ em mỗi năm. Cũng
giống như những nước có thu nhập thấp và trung bình khác, những yếu
tố quan trọng liên quan đến khả năng xảy ra TNTT là tuổi, giới tính, môi
trường nguy hiểm, tình trạng kinh tế xã hội, yếu tố thường có mối liên hệ
với nhận thức hạn chế về nguy cơ và giám sát đối với trẻ; và tình trạng
được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, điển hình là vấn đề
cấp cứu và chăm sóc trước viện.
Thực hiện Quyết định số 4501/QĐ-BGDĐT ngày 29/11/2021 về việc
ban hành Chương trình phòng, chống TNTT trẻ em, học sinh giai đoạn
2021 - 2025; để giúp triển khai hiệu quả các giải pháp đảm bảo an toàn
trường học, phòng chống TNTT bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trẻ em, học
sinh trong cơ sở giáo dục (CSGD), Bệnh viện Nhi Trung ương phối hợp
với Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với sự hỗ trợ kỹ
thuật của Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids (Chương trình Vận
động Chính sách Y tế toàn cầu), Hoa Kỳ xây dựng Tài liệu hướng dẫn sơ
cấp cứu ban đầu tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ em, học sinh để
từng bước tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên
y tế, cán bộ quản lý, giáo viên của các CSGD mầm non, phổ thông. Nội
dung tài liệu được cập nhật các kiến thức thực hành cấp cứu Nhi khoa
mới nhất, trình bày dễ hiểu, dễ áp dụng, bao gồm các nội dung cấp cứu
TNTT thường gặp. Trong quá trình biên soạn đã nhận được sự đóng góp
trực tiếp của các chuyên gia tư vấn.
Nhóm Biên soạn hi vọng, đây là tài liệu học tập không chỉ cho đội
ngũ nhân viên y tế, cán bộ quản lý, giáo viên của CSGD mà còn là tài liệu
tham khảo của các bậc phụ huynh, học sinh và những người quan tâm.
Ban biên soạn rất mong nhân được sự đóng góp ý kiến để tài liệu này
ngày càng được hoàn thiện hơn.
CHỦ BIÊN
MỤC LỤC
PHẦN 1 SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
Bài 1. TỔNG QUAN VỀ SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
5
Bài 2. CẤP CỨU CƠ BẢN
16
Bài 3. GÃY XƯƠNG
28
Bài 4. CẦM MÁU VÀ BĂNG BÓ VẾT THƯƠNG
36
PHẦN 2 TAI NẠN THƯƠNG TÍCH THƯỜNG GẶP Ở TRẺ EM, HỌC SINH
Bài 5. DỊ VẬT ĐƯỜNG THỞ Ở TRẺ EM
56
Bài 6. TAI NẠN GIAO THÔNG, NGÃ
65
Bài 7. NGỘ ĐỘC
72
Bài 8. ĐIỆN GIẬT, BỎNG
82
Bài 9. SÚC VẬT CẮN VÀ CÔN TRÙNG ĐỐT
90
Bài 10. ĐUỐI NƯỚC
101
PHẦN 1
SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
BÀI 1.
TỔNG QUAN VỀ SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
MỤC TIÊU HỌC TẬP:
1. Biết được tầm quan trọng của sơ cấp cứu tai nạn
thương tích ở trẻ em.
2. Biết được những việc cần làm của người cấp cứu và
người trợ giúp
3. Nắm được các bước của sơ cấp cứu ban đầu
7
NỘI DUNG
I. NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU TNTT
1. Định nghĩa
Sơ cấp cứu ban đầu là sự trợ giúp ban đầu, ngay lập tức cho người
bệnh hoặc nạn nhân (sau đây gọi chung là nạn nhân) cho đến khi
họ được chăm sóc bởi nhân viên y tế chuyên nghiệp. Đó không chỉ
là những xử trí ban đầu đối với chấn thương của nạn nhân mà còn
là sự chăm sóc ban đầu khác như trấn an tâm lý đối với nạn nhân và
những người chứng kiến sự kiện TNTT, người thân của nạn nhân.
Sơ cứu thường bao gồm các thủ thuật đơn giản, thông thường dễ
thực hiện. Sơ cứu nhằm giữ cho tình trạng sức khỏe của nạn nhân
không trở nên nguy kịch hơn và nó không thay thế cho việc điều trị
y tế.
Sơ cứu được xem như là một phần trong chăm sóc cấp cứu nhằm
mục đích:
Làm tăng khả năng sống sót.
Ngăn ngừa khả năng nặng lên của thương tật.
Góp phần ổn định sức khỏe cho nạn nhân.
Người sơ cấp cứu phải được đào tạo lý thuyết và kỹ năng thực hành
cấp cứu.
2. Nhiệm vụ của người cấp cứu
Để nạn nhân ở vị trí cấp cứu an toàn.
Gọi người xung quanh trợ giúp.
Cấp cứu ban đầu cho nạn nhân.
8
Gọi hoặc nhờ người khác gọi cấp cứu 115.
Ghi lại hoặc nhờ người ghi lại những điều đã xảy ra, những việc
đã làm.
Có thể sử dụng các biện pháp phòng nhiễm trùng cho người sơ
cấp cứu: rửa tay, đeo găng, có thể sử dụng mask (mặt nạ) để hô
hấp nhân tạo.
3. Nhiệm vụ của người trợ giúp
Tìm kiếm tất cả các nạn nhân trong vụ tai nạn thương tích.
Tìm kiếm tất cả mọi sự chăm sóc.
Gọi cấp cứu y tế và chỉ dẫn người cấp cứu đến đúng địa chỉ cần
cấp cứu.
Thực hiện chăm sóc cần thiết cho nạn nhân theo yêu cầu của
người thực hiện sơ cấp cứu.
Đặt đúng các tư thế của nạn nhân.
Ghi chép lại những điều đã xảy ra, những việc đã làm
Trấn an tâm lý đối với người nhà nạn nhân (nếu có).
4. Hậu quả của việc không sơ cấp cứu kịp thời
Tim ngừng đập và dẫn đến tử vong.
Nếu ngừng tim trên 4 phút thì não có thể bị tổn thương.
Nếu ngừng tim trên 10 phút thì não tổn thương không thể
phục hồi.
9
5. Các bước sơ cấp cứu bao gồm
NHẬN ĐỊNH
LẬP
KẾ HOẠCH
THỰC HIỆN
ĐÁNH GIÁ
LẠI
Nhận định tình huống: Quan sát hiện trường xem có vấn đề
nguy hiểm hay không, có một người bị nạn hay nhiều người bị
nạn, tình huống xảy ra có xa hay gần trung tâm y tế, mức độ đã
được trợ giúp ra sao.
Lập kế hoạch chuẩn bị sơ cấp cứu nạn nhân.
Thực hiện theo kế hoạch sơ cấp cứu và hỗ trợ nạn nhân như: hà
hơi thổi ngạt, ép tim ngoài lồng ngực.
Đánh giá lại kết quả vừa cấp cứu xem tình trạng sức khoẻ của
nạn nhân có được cải thiện không. Thông báo cho gia đình hoặc
người thân, người giám hộ hợp pháp của nạn nhân càng sớm
càng tốt. Trấn an và giải thích cho nạn nhân được sơ cứu. Hoàn
tất thủ tục báo cáo sự việc xảy ra.
10
II. TRÌNH TỰ CẤP CỨU BAN ĐẦU
Cấp cứu ban đầu theo trình tự ABCDE
1. Airway (A): Đường thở
Trước hết cần xác định nạn nhân còn tỉnh, còn tiếp xúc được hay
không; nếu bị tắc nghẽn đường thở thì cần thực hiện ngay lập tức
các động tác sau:
Nghiêng người ghé tai sát miệng nạn nhân để xem còn thở
hay không.
Mở miệng nạn nhân kiểm tra xem có đờm dãi, dị vật hay không.
Nếu nạn nhân vẫn còn khó thở, thì cần phải kiểm tra xem có
phải do tụt lưỡi không; nếu tụt lưỡi thì phải tiến hành kéo lưỡi.
Nâng cằm, đẩy hàm giữ cho đường thở được thẳng trục.
Tiến hành thổi ngạt qua miệng hoặc mũi nếu bệnh nhân
ngừng thở.
2. Breathing (B): Hô hấp
Đánh giá rối loạn hô hấp dựa vào tần số thở, gắng sức hô hấp, xem
trên ngực có vết thương không, đặc biệt các trường hợp có thể xử trí
được ngay tại chỗ trong khi chờ đợi nhân viên y tế đến, nhất là khi:
Nạn nhân bị ngừng thở, tím tái hay đe dọa ngừng thở phải tiến
hành ngay hô hấp nhân tạo miệng - miệng hoặc miệng - mũi.
Tổn thương hở ở ngực, cần đặt ngay miếng gạc hoặc lấy quần
áo sạch, vải sạch đặt lên vết thương và băng kín để cầm máu
và hạn chế khí tràn vào khoang ngực làm nạn nhân khó thở hơn.
Tuyệt đối không lấy bỏ dị vật đang cắm trên ngực, nếu lấy bỏ
dị vật ra thì có nguy cơ chảy máu ồ ạt, làm nạn nhân có thể tử
vong nhanh chóng.
11
3. Circulation (c): Tuần hoàn
Trong khi đánh giá và xử trí tuần hoàn, luôn kiểm tra đường thở và hô
hấp. Đối với xử trí tuần hoàn, cần kiểm soát chảy máu.
Đánh giá về tuần hoàn dựa vào:
Bắt mạch cánh tay, cổ tay, mạch bẹn. Trong trường hợp cấp
cứu cơ bản ngoài cộng đồng có thể bỏ qua bước này nếu nạn
nhân suy hô hấp.
Nạn nhân có dấu hiệu lơ mơ, da xanh tái, nhợt nhạt, vã mồ hôi,
đó là dấu hiệu mất máu. Cần phải có các biện pháp can thiệp
để kiểm soát chảy máu bên ngoài, còn chảy máu bên trong cần
phải can thiệp phẫu thuật mới kiểm soát được.
Các biện pháp cầm máu đơn giản như băng ép hoặc ép chặt
vào chỗ đang chảy máu bằng quần áo hoặc băng gạc sạch vô
khuẩn, giữ nguyên đến khi nhân viên y tế đến, tuyệt đối không
bỏ tay đang giữ ép ra hoặc bỏ gạc đang giữ để thay gạc mới
sẽ làm cho máu chảy mạnh hơn và khó cầm máu.
Trường hợp nạn nhân có biểu hiện ngừng tim cần tiến hành biện
pháp hồi sinh tim phổi bằng ép tim ngoài lồng ngực (nội dung được
hướng dẫn cụ thể trong bài cấp cứu cơ bản).
4. Disability (D): Thần kinh
Cần đánh giá nhanh tổn thương hệ thần kinh theo 4 mức độ
như sau:
Mức độ 1. Nạn nhân tỉnh và giao tiếp bình thường.
Mức độ 2. Nạn nhân đáp ứng (trả lời, cử chỉ) với lời nói khi
được gọi, hỏi.
12
Mức độ 3. Nạn nhân đáp ứng với kích thích đau (chỉ áp dụng
khi hỏi không thấy trả lời: mức độ 2).
Mức độ 4. Nếu không đáp ứng với lời nói khi hỏi (mức độ 2)
hoặc kích thích đau (mức độ 3), như vậy nạn nhân đã hôn mê,
tiên lượng rất xấu, nên chuyển sớm đến cơ sở y tế để được
chăm sóc và điều trị.
Trường hợp nạn nhân không tỉnh hoặc ở mức độ 4 thì có biểu
hiện tổn thương não. Ngoài ra khi bệnh nhân đang tỉnh sau đó
rơi vào hôn mê, hoặc có thay đổi ý thức theo các mức độ như
trên thì thường là tiếp tục chảy máu hoặc thương tổn trong não
nặng lên.
Trường hợp nạn nhân có tổn thương ở đầu hay rách da, vỡ xương,
thậm chí chảy dịch não tủy hoặc hở tổ chức não,... chỉ nên dùng
gạc sạch hoặc quần áo sạch băng lên vết thương, tuyệt đối
không bôi, đắp bất cứ thuốc, hoá chất, lá cây gì, không rút dị
vật còn cắm tại đó ra.
5. Exposure (E): Lộ toàn thân
Khi sơ cứu nạn nhân đã ổn định, nên cởi bỏ quần áo nạn nhân
để đánh giá các tổn thương khác tránh bỏ sót tổn thương.
Cố định cột sống cổ nếu nghi ngờ chấn thương cột sống cổ:
Nếu nạn nhân tỉnh táo, khuyến khích họ nằm yên hoàn toàn.
Dùng nẹp cột sống chuyên dụng hoặc vật liệu có sẵn: túi cát,
vật nặng, khăn vải cuộn chặt để cố định hai bên cột sống cổ,
lưng, dùng băng keo hoặc dây để cột lại. Khi nạn nhân đã nằm
trên ván cứng có thể đặt hai bao cát ở hai bên cổ chiều dài từ
tai đến xương đòn rồi cố định bằng dây buộc ở trán, vai, cánh
chậu, gối và cổ chân.
13
Lưu ý: Đặt nạn nhân ở tư thế an toàn
Tư thế an toàn cho nạn nhân là tư thế nhằm để bảo vệ đường
thở thông thoáng.
Tất cả các nạn nhân hôn mê đều nên được đặt ở tư thế an
toàn. Không nên thay đổi tư thế nạn nhân khi nghi ngờ có chấn
thương cột sống như trường hợp chấn thương, liệt chân, đại tiểu
tiện không tự chủ.
Tư thế an toàn đối với nạn nhân hôn mê (để lưỡi không tụt về
phía sau gây tắc nghẽn hầu họng hoặc tránh sặc chất nôn vào
đường thở). Để nạn nhân nằm nghiêng, tay trên gấp, tay dưới
duỗi thẳng ra trước mặt, chân trên co, chân dưới duỗi thẳng.
Có thể dùng vải hoặc gối kê giữ nguyên bệnh nhân ở tư thế
như vậy.
Hình minh họa tư thế an toàn
14
III. GỌI CẤP CỨU
1. Yêu cầu đối với người gọi trợ giúp
Câu từ rõ ràng, ngắn gọn và chính xác. Thông tin cung cấp đầy đủ về:
Hiện trường: Vị trí, địa chỉ, đường đi,…
Tại nạn: Loại tai nạn, tính chất nghiêm trọng của tai nạn.
Nạn nhân: Số lượng, giới tính, tuổi, giờ đến cấp cứu nạn nhân,
dấu hiệu nạn nhân, những sơ cứu đầu tiên đã làm, diễn biến và
tình trạng nạn nhân,…
Các nguy hiểm khác: Khí độc, chất nổ,…
Thông tin để liên lạc: Tên của bạn, số điện thoại,…
Chỉ dừng cuộc gọi sau khi người nhận cuộc gọi đã xác nhận và
dừng cuộc gọi.
2. Nguyên tắc vận chuyển nạn nhân
Tốt nhất vận chuyển nạn nhân bằng các phương tiện chuyên dụng y
tế: Cáng, xe đẩy, xe cứu thương,… Nếu không có hỗ trợ chuyên môn
và phương tiện chuyên dụng y tế thì việc vận chuyển nạn nhân luôn
luôn phải đảm bảo đúng kỹ thuật, nhanh chóng, an toàn cho cả nạn
nhân và người vận chuyển, cụ thể như sau:
a) Chỉ được vận chuyển nạn nhân sau khi đã được sơ cứu, cấp
cứu ban đầu.
b) Chỉ chuyển nạn nhân khi đảm bảo các yếu tố an toàn: Bảo vệ
nạn nhân trong lúc di chuyển.
15
c) Bình tĩnh cân nhắc việc thực hiện ưu tiên cần làm tuỳ theo tình
trạng tổn thương của nạn nhân.
d) Việc vận chuyển được thực hiện đồng đều theo hiệu lệnh
thống nhất của người chỉ huy.
e) Theo dõi nạn nhân thường xuyên khi vận chuyển, đảm bảo
nạn nhân luôn ở tư thế an toàn nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Maconochie IK, Aickin R, Hazinski MF at al (2020); Pediatric Life
Support Collaborators. Pediatric Life Support: 2020 International Consensus on Cardiopulmonary Resuscitation and Emergency Cardiovascular Care Science With Treatment Recommendations. Resuscitation. 2020 Nov;156: A120-A155
2.
CDC, National Center for Injury Prevention and Control. WISQARS Leading Causes of Death Reports, 1981–2020. https://
wisqars.cdc.gov/fatal-leading. Published 2022. Accessed
March 15, 2022.
3.
Monroe K, Smola C, Schmit E, Jeffries K, Burks AR, Nichols M. Important Advances in Pediatric Injury Prevention. South Med J.
2022 Aug;115(8):630-634. doi: 10.14423/SMJ.0000000000001432.
PMID: 35922051.
4.
Lama Bou-Karroum, Fadi El-Jardali, Mathilda Jabbour, Aya
Harb, Racha Fadlallah, Nour Hemadi, Samar Al-Hajj; Preventing Unintentional Injuries in School-Aged Children: A Systematic
Review. Pediatrics May 2022; 149 (Supplement 6): e2021053852J.
10.1542/peds.2021-053852J
16
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1.
Nhiệm vụ của người sơ cấp cứu phải làm gì?
2.
Nhiệm vụ của người trợ giúp cấp cứu phải làm gì?
3.
Hãy nêu nội dung cơ bản của trình tự sơ cấp cứu theo ABCDE?
4.
Mô tả cách đặt bệnh nhân bị hôn mê ở tư thế an toàn?
17
PHẦN 1
SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
BÀI 2.
CẤP CỨU CƠ BẢN
MỤC TIÊU HỌC TẬP:
1. Mô tả được các bước cấp cứu cơ bản.
2. Thực hành cách đánh giá hô hấp trong cấp cứu cơ bản.
3. Thực hành cách thổi ngạt và ép tim trong bước cấp cứu
cơ bản.
18
I. ĐỊNH NGHĨA
Cấp cứu cơ bản là việc áp dụng các kỹ thuật cấp cứu đơn giản, dù chỉ
có một người cấp cứu cũng có thể hỗ trợ được các chức năng sống
như: Hô hấp và tuần hoàn cho trẻ bị trụy tim mạch ngay cả khi không
có các thiết bị cấp cứu. Sau khi nạn nhân đã được tiếp cận an toàn,
đánh giá mức độ tri giác bằng phương pháp đơn giản, tiến hành đánh
giá và xử trí theo trình tự ABC.
II. TRÌNH TỰ THỰC HIỆN
Trình tự cấp cứu cơ bản chung cho nạn nhân là trẻ bị ngừng thở, ngừng
tim theo các bước sau:
1. Tiếp cận ban đầu: Danger, Responsive, Send for help (DRS)
Ở môi trường bên ngoài, người cấp cứu không được để mình trở
thành nạn nhân thứ hai và đứa trẻ bị tai nạn phải được thoát
khỏi sự nguy hiểm càng nhanh càng tốt. Những việc này phải
được thực hiện trước khi tiến hành đánh giá đường thở. Trong
trường hợp có một người cấp cứu, nên gọi sự hỗ trợ ngay khi
phát hiện nạn nhân không đáp ứng.
Khi có 2 người tiến hành cấp cứu thì một người sẽ làm cấp cứu cơ
bản trong khi người thứ hai gọi cấp cứu, sau đó quay lại trợ giúp
người thứ nhất và nên đổi vị trí cho nhau ít nhất 2 phút một lần
để tránh mệt mỏi. Nếu có hơn 2 người cấp cứu thì 2 người thực
hiện cấp cứu, những người còn lại sẽ phân công nhau để thực
hiện các công việc của người trợ giúp như đã nêu trong Bài 1 của
tài liệu này. Nếu chỉ có một người cấp cứu và không có sự hỗ trợ
thì người đó phải tiến hành cấp cứu cơ bản trước trong 1 phút và
sau đó tự mình gọi điện thoại. Trong trường hợp nạn nhân là trẻ
sơ sinh hoặc trẻ nhỏ, nhân viên cứu hộ có thể bế trẻ ra nơi để điện
thoại và vẫn tiếp tục làm cấp cứu cơ bản trên đường đi.
19
a) Gọi điện thoại tìm kiếm sự hỗ trợ trước
Trong một vài trường hợp, trình tự trên bị đảo ngược. Như đã
miêu tả, ở trẻ em, việc ngừng thở, ngừng tuần hoàn sẽ dẫn
đến ngừng tim nhanh chóng. Do đó, cần phải hỗ trợ ngay tức
khắc về hô hấp và ép tim ngoài lồng ngực như cấp cứu cơ
bản để có thể cứu sống trẻ. Tuy nhiên trong một vài trường
hợp, nếu tiến hành sốc điện sớm có thể cứu được tính mạng
trẻ, ví dụ, trong ngừng tim do rối loạn nhịp tim. Trong những
trường hợp đó, khi có hai người cứu hộ, một người tiến hành
cấp cứu cơ bản, còn một người gọi trung tâm cấp cứu như
đã miêu tả phía trên. Nếu chỉ có một người cứu hộ thì nên tiến
hành gọi trung tâm cấp cứu trước và tiến hành cấp cứu cơ
bản ngay sau đó.
b) Đánh giá tình trạng của trẻ bị TNTT
Đánh giá đáp ứng của trẻ bằng cách đơn giản là hỏi trẻ:
“Cháu có bị sao không” và kích thích trẻ như giữ đầu và lay
tay trẻ. Điều này sẽ tránh làm nặng lên ở những trẻ có chấn
thương cột sống cổ. Những trẻ nhỏ, nếu vì quá sợ mà không
trả lời được, vẫn có thể đáp ứng bằng cách mở mắt hoặc
kêu lên những tiếng nhỏ.
Hình 1. Nâng cằm ở trẻ lớn
20
2. Đường thở (Airway - A)
Tắc nghẽn đường thở có thể là nguyên nhân đầu tiên. Khi giải quyết
được sự tắc nghẽn này, trẻ có thể hồi phục mà không cần can thiệp
gì thêm. Trẻ không thở được có thể do lưỡi tụt về phía sau gây tắc
nghẽn hầu họng. Trong trường hợp này phải mở thông đường thở
bằng thủ thuật ngửa đầu và nâng cằm. Người cấp cứu đặt bàn tay
vào trán trẻ rồi từ từ đẩy ra phía sau. Đối với trẻ nhỏ, đặt cổ ở tư thế
trung gian, còn đối với trẻ lớn thì đặt cổ hơi ngả ra sau. Đặt ngón
tay của bàn tay còn lại dưới cằm để đẩy ra trước. Tránh gây tổn
thương phần mềm do giữ quá mạnh. Có thể dùng ngón tay cái giữ
cho miệng trẻ không ngậm lại khi tiến hành thủ thuật.
Nếu trẻ khó thở nhưng vẫn tỉnh táo thì phải đưa trẻ tới bệnh viện
càng nhanh càng tốt. Bình thường, trẻ tự tìm được một tư thế thích
hợp để duy trì sự thông thoáng đường thở. Vì vậy, không nên ép trẻ
phải ở tư thế không thoải mái.
Đánh giá sự thông thoáng đường thở bằng cách:
NHÌN di động của lồng ngực và bụng.
NGHE tiếng thở.
CẢM NHẬN hơi thở.
Người cấp cứu nghiêng đầu trên mặt trẻ, tai ở trên mũi trẻ, má trên
miệng trẻ và nhìn dọc theo lồng ngực trẻ trong vòng 10 giây.
Trong trường hợp không thực hiện được thủ thuật này hoặc có
chống chỉ định do nghi ngờ chấn thương cột sống cổ, có thể dùng
thủ thuật ấn hàm. Dùng 2-3 ngón tay đặt dưới góc hàm 2 bên và
đẩy hàm ra phía trước (được hướng dẫn trong phần thực hành).
21
Hình 2. Ấn hàm ở trẻ lớn
Đánh giá sự thành công hay thất bại của biện pháp can thiệp bằng
cách dùng kỹ năng NHÌN, NGHE và CẢM NHẬN đã mô tả trên.
Chú ý: Trong trường hợp có chấn thương, thủ thuật ngửa đầu có thể
làm nặng thêm tổn thương cột sống cổ. Trong trường hợp này, biện
pháp an toàn nhất là ấn hàm nhưng không ngửa đầu. Việc kiểm
soát cột sống cổ chỉ thực hiện được khi có người cấp cứu thứ hai duy
trì cố định cột sống cổ.
3. Thở (B)
Sau khi làm nghiệm pháp mở thông đường thở mà trẻ có nhịp thở
bình thường đặt trẻ ở tư thế phục hồi, duy trì đường thở mở, gọi hỗ
trợ hoặc đưa tới bệnh viện, trong quá trình đó vẫn tiếp tục theo dõi
trẻ. Nếu đã áp dụng các biện pháp mở thông đường thở mà trẻ vẫn
không thở lại trong vòng 10 giây thì nên bắt đầu thổi ngạt.
a) Phương pháp thổi ngạt: Thực hiện thổi ngạt 5 nhịp ban đầu.
Trong khi giữ thông thoáng đường thở, người cấp cứu tiến hành
thổi ngạt theo phương pháp miệng - miệng cho trẻ lớn hoặc cả
miệng và mũi cho trẻ nhỏ.
22
Hình 4. Thổi ngạt miệng - miệng và mũi ở trẻ nhỏ
Nếu chỉ sử dụng phương pháp miệng - miệng thì bịt mũi trẻ
bằng ngón trỏ và ngón cái của bàn tay giữ đầu trẻ. Thổi chậm
1-1,5 giây và làm cho lồng ngực di động như mức bình thường,
nếu thổi quá mạnh sẽ gây bụng chướng và tăng nguy cơ trào
ngược dịch dạ dày vào phổi. Giữa 2 lần thổi, người cấp cứu hít
thở để cung cấp được nhiều oxy cho nạn nhân hơn. Nếu không
thể che phủ được cả miệng và mũi trẻ thì người cấp cứu chỉ nên
thổi hoặc qua miệng hoặc qua mũi.
Hình 5. Thổi ngạt miệng-miệng ở trẻ lớn
23
CHỈ DẪN CHUNG VỀ THỔI NGẠT
Lồng ngực di động theo nhịp thổi ngạt.
Áp lực thổi ngạt có thể cao hơn bình thường vì đường thở nhỏ.
Nhịp thổi ngạt chậm với áp lực thấp nhất ở mức có thể được để
làm giảm chướng bụng (do hơi đi thẳng vào dạ dày).
Ấn nhẹ vào sụn giáp làm giảm khí vào dạ dày.
Nếu lồng ngực vẫn không nở thì có thể do đường thở chưa thông
thoáng, do đó phải đặt lại tư thế đầu trẻ và tiếp tục thực hiện thổi
ngạt. Nếu vẫn không có kết quả thì nên ấn hàm. Một người cấp
cứu có thể vừa ấn hàm, vừa thổi ngạt. Nếu có hai người cấp cứu
một người sẽ mở thông đường thở, một người tiến hành thổi ngạt.
Thực hiện 5 lần thổi ngạt, trong khi tiến hành cấp cứu phải chú ý
xem trẻ có ho hay có đáp ứng lại hành động của bạn hay không.
b) Ép tim ngoài lồng ngực
Đặt trẻ nằm ngửa trên mặt phẳng cứng để đạt được kết quả
tốt nhất.
Do kích thước trẻ khác nhau nên cần kỹ thuật khác nhau theo
lứa tuổi. Trẻ lớn trên 8 tuổi có thể sử dụng kỹ thuật dùng cho
người lớn và điều chỉnh cho phù hợp với kích thước của trẻ. Ép
tim sâu xuống khoảng 1/3 bề dày lồng ngực của trẻ. Vị trí ép tim
thống nhất cho mọi lứa tuổi là: Một phần hai dưới xương ức.
Trẻ nhỏ dưới 8 tuổi: Dùng gót bàn tay của một tay ép lên
xương ức ở nửa dưới xương ức, nâng các ngón tay để chắc
chắn không ấn vào xương sườn trẻ, vị trí của người thực hiện
ép tim thẳng trục với ngực đứa trẻ và cánh tay để thẳng.
24
Trẻ lớn trên 8 tuổi: Dùng cả hai tay với các ngón tay khoá lại
với nhau và ép sâu ít nhất 1/3 bề dày lồng ngực (hình 8). Ngay
sau khi đã chọn được kỹ thuật và vị trí ép tim thích hợp, phải
tiến hành ngay thủ thuật.
Hình 8. Ép tim ở trẻ nhỏ và trẻ lớn
4. Hồi sức tim phổi liên tục
Tần số ép tim cho tất cả các lứa tuổi là 100 - 120 lần/phút; tỷ lệ ép
tim: thổi ngạt là 30:2 khi có 1 người cấp cứu. Phải cấp cứu cơ bản
không ngừng cho đến khi trẻ có cử động và thở được. Ép tim nên
thực hiện động tác nhanh và mạnh, độ sâu ít nhất 1/3 bề dầy lồng
ngực với tỉ lệ ép tim 100 -120 chu kỳ/phút và không ngừng ép tim.
Tóm tắt Cấp cứu cơ bản qua sơ đồ sau:
D
Nguy hiểm?
R
Hỏi: “cháu có bị sao không”
S
Gọi người giúp đỡ
A
Mở thông đường thở
25
B
Kiểm tra hơi thở?
Thổi ngạt 5 lần nếu không thở
C
Hồi sức tim phổi (CPR)
30 ép tim: 2 lần thổi ngạt
D
Kết nối máy sốc điện (nếu có)
Chắc chắn người giúp đỡ đang đến
TIẾP TỤC CPR CHO ĐẾN KHI TRẺ CÓ ĐÁP ỨNG HOẶC
NHỊP THỞ BÌNH THƯỜNG
* CPR= Cardio Pulmonary Resuscitation = Hồi sức tim phổi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Theresa M. O, Federico S, Giuseppe R at al (2021): European
Resuscitation Council Guidelines 2021: Basic Life Support. Resuscitation ; pp. 98 - 114 https://doi.org/10.1016/j.resuscitation.2021.02.009
2.
Advanced Pediatric Life Support: The Practical Approach;
Chapter 18: “Basic life support'' Sixth Edition 2016 - pp 325-347.
3.
American Red Cross (2020) Pediatric Advanced Life Support
Participant's Manual; Printed in the United States of America
ISBN: 978-1-7337007-6-4
4.
Alexis A. Topjian, MD, MSCE, Chair at al (2020)
26
5.
Hsu A, Sasson C, Kudenchuk PJ, Atkins DL, Aziz K, Becker LB, Berg
RA, Bhanji F, Bradley SM, Brooks SC, et al. 2021 interim guidance
to health care providers for basic and advanced cardiac life
support in adults, children, and neonates with suspected or
confirmed COVID-19. Circ Cardiovasc Qual Outcomes. 2021;14:
e008396. doi: 10.1161/ CIRCOUTCOMES. 121.008396
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
Điền vào chỗ trống ý thích hợp
Câu 1. Các bước cấp cứu cơ bản chung cho trẻ ngừng thở - ngừng
tim gồm.
A. Nguy hiểm?
B. Hỏi: ”cháu có bị sao không?”
C. Gọi người hỗ trợ
D. ............................
E. Thổi ngạt 2 lần
F. .................................
H. Kết nối máy shock điện, chắc chắn giúp đỡ đang đến.
Câu 2. Đánh giá sự thông thoáng đường thở bằng cách.
A. NHÌN:............................................
B. NGHE:............................................
C. CẢM NHẬN:.................................
27
Câu 3. Kỹ thuật thổi ngạt: (Khoanh tròn vào câu trả lời đúng nhất).
A. Lồng ngực di động theo nhịp thổi ngạt.
B. Cần thổi ngạt càng nhanh càng tốt.
C. Cần thổi ngạt càng mạnh càng tốt vì đường thở nhỏ.
Câu 4. Kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực. (Khoanh tròn vào chữ cái
câu trả lời đúng nhất)
A. Kỹ thuật ép tim như nhau với mọi lứa tuổi.
B. Độ sâu ít nhất 1/3 bề dầy lồng ngực với tỉ lệ ép tim 100 chu kỳ/
phút cho mọi lứa tuổi.
C. Nên kiểm tra lại vị trí ép tim sau mỗi lần thông khí.
Câu 5. Tư thế ép tim đúng nhất cho trẻ 15 tuổi là.
A. Vòng tay ôm ngực.
B. Hai ngón tay.
C. Một gót bàn tay.
D. Hai gót bàn tay.
28
Câu hỏi đúng/sai: Đánh dấu
CÂU
vào ô thích hợp dưới đây.
NỘI DUNG CÂU HỎI
Cấp cứu cơ bản đường thở gồm:
6
A Đối với trẻ nhũ nhi, đặt cổ ở tư thế trung
gian, còn đối với trẻ lớn thì đặt cổ hơi ngả
ra sau.
B Đánh giá sự thông thoáng đường thở bằng
cách: NGHE, NHÌN, CẢM NHẬN.
C Nếu nghi ngờ chấn thương cột sống cổ
cần dùng thủ thuật ấn hàm.
D Có thể dùng tay lấy dị vật cho trẻ nếu nhìn thấy.
Kỹ thuật thổi ngạt gồm:
A Tiến hành khi trẻ không thở lại trong 10s dù
đã được mở thông đường thở.
7
B Cần thổi ngạt 2 lần miệng - miệng hoặc
miệng - mũi.
C Thổi ngạt/ép tim = 30/2.
D Nhịp thổi ngạt càng nhanh càng tốt.
Kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực gồm:
A Đặt trẻ nằm ngửa trên mặt phẳng cứng để
đạt được kết quả tốt nhất.
8
B Vị trí ép tim thống nhất cho mọi lứa tuổi là:
một phần hai dưới xương ức.
C Cấp cứu cơ bản không ngừng cho đến khi
D trẻ có cử động và thở được.
Việc ép tim không cần thiết sẽ gây hại cho
bệnh nhân.
29
PHẦN 1
SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
BÀI 3.
GÃY XƯƠNG
MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Nguyên nhân và phân loại gãy xương.
2. Trình bày các triệu chứng của gãy xương.
3. Thực hiện được cách xử trí ban đầu gãy xương.
30
1. ĐỊNH NGHĨA
Gãy xương là tình trạng mất đi tính liên tục của xương, có thể biểu hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau, từ một vết rạn cho đến gãy xương
hoàn toàn.
2. NGUYÊN NHÂN
Gãy xương thường là do tác động của một lực vào xương, hoặc
ở xa chỗ đó. Do đó có thể là gãy xương trực tiếp hoặc gián tiếp.
Gãy xương trực tiếp: Ít gặp, đường gãy thường cắt ngang qua
xương và ổ gãy ở ngay vùng bị tác động, thường bao gồm các
thương tổn ở các phần mềm. Các xương bị gãy trực tiếp là các
xương ở nông ngay dưới da.
Gãy xương gián tiếp: Thường gây ra do gấp xương, xoắn xương,
do ép hoặc co cứng cơ và ổ gãy có thể ở xa nơi bị lực tác động vào.
3. PHÂN LOẠI
Gãy xương được chia làm 2 loại chính: Gãy xương kín và gãy xương hở
và cả 2 đều có thể là gãy xương biến chứng.
Gãy xương kín: Tổ chức da ở vùng xung quanh ổ gãy không bị tổn
thương hoặc có tổn thương nhưng không thông với ổ gãy.
Gãy xương hở: Tổn thương ở bề mặt da có thông với ổ gãy hoặc
có đầu xương lồi ra ngoài. Gãy xương hở là một tổn thương nghiêm
trọng vì nó không những gây chảy máu mà còn gây nên những biến
chứng nhiễm khuẩn nặng nề.
Gãy xương biến chứng: Cả gãy xương hở và gãy xương kín đều
được coi là gãy xương biến chứng khi kèm theo tổn thương dây thần
kinh, mạch máu hay tổ chức cơ quan nào đó.
31
4. TRIỆU CHỨNG
Cơ năng: Thường gặp đau và hạn chế vận động, sưng nề sau đó
bầm tím ở vùng chấn thương.
Thực thể:
So sánh chi gãy với chi lành, nhận thấy sự biến dạng: Sưng, tụ
máu, gãy góc, xoắn vặn, chi ngắn,…
Đau chói khi nắn ngón tay vào chỗ gãy.
Di động bất thường và tiếng xương lạo xạo là dấu hiệu điển hình
của gãy xương. Tuy nhiên chỉ nên tìm hai dấu hiệu này khi chẩn
đoán chưa rõ và thăm khám phải rất nhẹ nhàng, thận trọng.
(Không được cố gắng tìm dấu hiệu này vì làm bệnh nhân rất đau).
Tổn thương phối hợp như tổn thương mạch máu và thần kinh:
Đầu chi lạnh, không cảm giác, không vận động được.
Có thể có triệu chứng của sốc khi bị gãy xương hở, gãy xương
chậu, xương đùi và đa chấn thương.
Chú ý: Không phải tất cả các trường hợp gãy xương đều có những
dấu hiệu và triệu chứng trên. Để tìm ra những dấu hiệu của gãy xương
phải chủ yếu dựa vào quan sát. Không di động bất kì bộ phận nào
của cơ thể nếu không cần thiết.
Nếu có sự kết hợp của 2 hay 3 triệu chứng kể trên hoặc bệnh nhân có
biểu hiện sốc hoặc nếu có nghi ngờ chấn thương nặng thì xử trí như
một trường hợp gãy xương.
32
5. XỬ TRÍ
5.1. Mục đích
Hạn chế di lệch của đầu xương gãy, giảm đau, phòng sốc và các
tổn thương thứ phát khác tại vùng tổn thương.
5.2. Xử trí
Gọi cấp cứu y tế.
Đánh giá và xử trí các vấn đề về đường thở, thở và tim mạch
đặc biệt trong các trường hợp gãy xương hở, xương chậu,
xương đùi, đa chấn thương,…
Tuyệt đối không vận động phần chi bị tổn thương nếu không
cần thiết.
Băng kín các vết thương nếu có. Kiểm soát chảy máu.
Cố định tạm thời xương gãy bằng nẹp hoặc băng ép.
Nâng cao chi bị gãy sau khi cố định để giảm sưng nề.
Thường xuyên theo dõi bệnh nhân về tình trạng toàn thân.
5.3. Nguyên tắc cố định xương gãy
Nẹp sử dụng phải đảm bảo đủ độ dài, rộng và vững chắc. Nẹp
có thể làm bằng gỗ, tre, thanh kim loại,…
Không đặt nẹp trực tiếp lên da thịt nạn nhân, phải có đệm lót ở
đầu nẹp, đầu xương. Có thể lấy bông hoặc vải để làm đệm lót
(không cởi quần áo, cần thiết rạch quần áo).
Cố định trên và dưới vị trí xương gãy 1 khớp. Với gãy xương đùi
phải bất động được 3 khớp.
33
Trường hợp gãy kín đặc biệt gãy xương đùi phải kéo liên tục
bằng một lực không đổi.
Trường hợp gãy hở: Không ...
BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VỤ GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TÀI LIỆU
HƯỚNG DẪN SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU TAI NẠN
THƯƠNG TÍCH THƯỜNG GẶP Ở TRẺ EM, HỌC SINH
(Tài liệu tập huấn cho nhân viên y tế, cán bộ quản lý, giáo viên của cơ sở giáo dục)
HÀ NỘI, 2022
CHỦ BIÊN:
PGS.TS.Trần Minh Điển – Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương
THAM GIA BIÊN SOẠN:
TS.BS. Lê Ngọc Duy – Trưởng khoa Cấp cứu chống độc,
Bệnh viện Nhi Trung ương
BSCKII. Nguyễn Tân Hùng – Phó Trưởng khoa Cấp cứu
chống độc, Bệnh viện Nhi Trung ương
BSCKII. Phạm Thị Thanh Tâm – Phó trưởng khoa Cấp cứu
và Chống Độc, Bệnh viện Nhi Trung ương
PGS.TS. Trương Thị Mai Hồng – Khoa Cấp cứu và Chống
Độc, Bệnh viện Nhi Trung ương
TS. BS. Phạm Ngọc Toàn - Khoa Cấp cứu và Chống Độc,
Bệnh viện Nhi Trung ương
TS. BS. Đỗ Minh Loan – Giám đốc trung tâm Chỉ đạo tuyến,
Bệnh viện Nhi Trung ương
Ths.BS. Trịnh Tuấn Anh - Khoa Cấp cứu và Chống Độc,
Bệnh viện Nhi Trung ương
Ths. Lê Xuân Tùng – Cán bộ trung tâm Chỉ đạo tuyến, Bệnh
viện Nhi Trung ương
2
CHUYÊN GIA TƯ VẤN BIÊN SOẠN:
TS. Nguyễn Nho Huy, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục thể chất,
Bộ GDĐT
TS. Phùng Khắc Bình, Nguyên Vụ trưởng Vụ Công tác HSSV,
Bộ GDĐT
ThS. Đoàn Thị Thu Huyền, Giám đốc quốc gia tại Việt Nam,
Tổ chức Campaign For Tobacco Free Kids (Chương trình
Vận động Chính sách Y tế toàn cầu), Hoa Kỳ.
ThS. Phạm Văn Tịnh, Chuyên viên chính Vụ Giáo dục
Thể chất, Bộ GDĐT
THƯ KÝ:
Ths. Lê Xuân Tùng
3
LỜI NÓI ĐẦU
Theo Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), mỗi năm trên toàn cầu có khoảng
5,8 triệu trường hợp tử vong do tai nạn thương tích. Tai nạn thương tích
(TNTT) là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, chiếm
10% tổng số ca tử vong trên thế giới, nhiều hơn 32% so với số ca tử vong
do sốt rét, bệnh lao và HIV/AIDS cộng lại. Ngoài ra, hàng chục triệu
trường hợp cần chăm sóc và điều trị do TNTT không chủ đích gây ra,
nhiều trường hợp trong số đó bị tàn tật suốt đời. Khoảng 90% trường
hợp tử vong do TNTT xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.
TNTT không chỉ gây tổn thương về sức khỏe mà còn tạo ra gánh nặng
kinh tế đối với các quốc gia. Tại Mỹ, ước tính tổng chi phí cho TNTT trong
năm 2000 là 80,2 tỉ đô la Mỹ. Trong số đó, gần một nửa số chi phí này
liên quan đến TNTT do ngã và khoảng 1/5 chi phí này là do tai nạn giao
thông (TNGT).
Ở Việt Nam trong những thập kỷ gần đây, sự phát triển kinh tế và
xã hội nhanh chóng ở cũng là yếu tố làm cho vấn đề TNTT ngày càng
nghiêm trọng và là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử
vong và tàn tật ở trẻ em. Theo báo cáo năm 2019 của Bộ Y tế, ước tính
mỗi ngày có tới 3.600 trường hợp gặp tai nạn thương tích, 90 người tử
vong. Trong đó, tai nạn giao thông và đuối nước là nguyên nhân hàng
đầu gây tử vong. Đuối nước là nguyên nhân gây tử vong lớn nhất ở trẻ
em dưới 19 tuổi, cướp đi mạng sống của hơn 3.000 trẻ em mỗi năm. Cũng
giống như những nước có thu nhập thấp và trung bình khác, những yếu
tố quan trọng liên quan đến khả năng xảy ra TNTT là tuổi, giới tính, môi
trường nguy hiểm, tình trạng kinh tế xã hội, yếu tố thường có mối liên hệ
với nhận thức hạn chế về nguy cơ và giám sát đối với trẻ; và tình trạng
được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, điển hình là vấn đề
cấp cứu và chăm sóc trước viện.
Thực hiện Quyết định số 4501/QĐ-BGDĐT ngày 29/11/2021 về việc
ban hành Chương trình phòng, chống TNTT trẻ em, học sinh giai đoạn
2021 - 2025; để giúp triển khai hiệu quả các giải pháp đảm bảo an toàn
trường học, phòng chống TNTT bảo vệ, chăm sóc sức khỏe trẻ em, học
sinh trong cơ sở giáo dục (CSGD), Bệnh viện Nhi Trung ương phối hợp
với Vụ Giáo dục thể chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với sự hỗ trợ kỹ
thuật của Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids (Chương trình Vận
động Chính sách Y tế toàn cầu), Hoa Kỳ xây dựng Tài liệu hướng dẫn sơ
cấp cứu ban đầu tai nạn thương tích thường gặp ở trẻ em, học sinh để
từng bước tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên
y tế, cán bộ quản lý, giáo viên của các CSGD mầm non, phổ thông. Nội
dung tài liệu được cập nhật các kiến thức thực hành cấp cứu Nhi khoa
mới nhất, trình bày dễ hiểu, dễ áp dụng, bao gồm các nội dung cấp cứu
TNTT thường gặp. Trong quá trình biên soạn đã nhận được sự đóng góp
trực tiếp của các chuyên gia tư vấn.
Nhóm Biên soạn hi vọng, đây là tài liệu học tập không chỉ cho đội
ngũ nhân viên y tế, cán bộ quản lý, giáo viên của CSGD mà còn là tài liệu
tham khảo của các bậc phụ huynh, học sinh và những người quan tâm.
Ban biên soạn rất mong nhân được sự đóng góp ý kiến để tài liệu này
ngày càng được hoàn thiện hơn.
CHỦ BIÊN
MỤC LỤC
PHẦN 1 SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
Bài 1. TỔNG QUAN VỀ SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
5
Bài 2. CẤP CỨU CƠ BẢN
16
Bài 3. GÃY XƯƠNG
28
Bài 4. CẦM MÁU VÀ BĂNG BÓ VẾT THƯƠNG
36
PHẦN 2 TAI NẠN THƯƠNG TÍCH THƯỜNG GẶP Ở TRẺ EM, HỌC SINH
Bài 5. DỊ VẬT ĐƯỜNG THỞ Ở TRẺ EM
56
Bài 6. TAI NẠN GIAO THÔNG, NGÃ
65
Bài 7. NGỘ ĐỘC
72
Bài 8. ĐIỆN GIẬT, BỎNG
82
Bài 9. SÚC VẬT CẮN VÀ CÔN TRÙNG ĐỐT
90
Bài 10. ĐUỐI NƯỚC
101
PHẦN 1
SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
BÀI 1.
TỔNG QUAN VỀ SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
MỤC TIÊU HỌC TẬP:
1. Biết được tầm quan trọng của sơ cấp cứu tai nạn
thương tích ở trẻ em.
2. Biết được những việc cần làm của người cấp cứu và
người trợ giúp
3. Nắm được các bước của sơ cấp cứu ban đầu
7
NỘI DUNG
I. NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU TNTT
1. Định nghĩa
Sơ cấp cứu ban đầu là sự trợ giúp ban đầu, ngay lập tức cho người
bệnh hoặc nạn nhân (sau đây gọi chung là nạn nhân) cho đến khi
họ được chăm sóc bởi nhân viên y tế chuyên nghiệp. Đó không chỉ
là những xử trí ban đầu đối với chấn thương của nạn nhân mà còn
là sự chăm sóc ban đầu khác như trấn an tâm lý đối với nạn nhân và
những người chứng kiến sự kiện TNTT, người thân của nạn nhân.
Sơ cứu thường bao gồm các thủ thuật đơn giản, thông thường dễ
thực hiện. Sơ cứu nhằm giữ cho tình trạng sức khỏe của nạn nhân
không trở nên nguy kịch hơn và nó không thay thế cho việc điều trị
y tế.
Sơ cứu được xem như là một phần trong chăm sóc cấp cứu nhằm
mục đích:
Làm tăng khả năng sống sót.
Ngăn ngừa khả năng nặng lên của thương tật.
Góp phần ổn định sức khỏe cho nạn nhân.
Người sơ cấp cứu phải được đào tạo lý thuyết và kỹ năng thực hành
cấp cứu.
2. Nhiệm vụ của người cấp cứu
Để nạn nhân ở vị trí cấp cứu an toàn.
Gọi người xung quanh trợ giúp.
Cấp cứu ban đầu cho nạn nhân.
8
Gọi hoặc nhờ người khác gọi cấp cứu 115.
Ghi lại hoặc nhờ người ghi lại những điều đã xảy ra, những việc
đã làm.
Có thể sử dụng các biện pháp phòng nhiễm trùng cho người sơ
cấp cứu: rửa tay, đeo găng, có thể sử dụng mask (mặt nạ) để hô
hấp nhân tạo.
3. Nhiệm vụ của người trợ giúp
Tìm kiếm tất cả các nạn nhân trong vụ tai nạn thương tích.
Tìm kiếm tất cả mọi sự chăm sóc.
Gọi cấp cứu y tế và chỉ dẫn người cấp cứu đến đúng địa chỉ cần
cấp cứu.
Thực hiện chăm sóc cần thiết cho nạn nhân theo yêu cầu của
người thực hiện sơ cấp cứu.
Đặt đúng các tư thế của nạn nhân.
Ghi chép lại những điều đã xảy ra, những việc đã làm
Trấn an tâm lý đối với người nhà nạn nhân (nếu có).
4. Hậu quả của việc không sơ cấp cứu kịp thời
Tim ngừng đập và dẫn đến tử vong.
Nếu ngừng tim trên 4 phút thì não có thể bị tổn thương.
Nếu ngừng tim trên 10 phút thì não tổn thương không thể
phục hồi.
9
5. Các bước sơ cấp cứu bao gồm
NHẬN ĐỊNH
LẬP
KẾ HOẠCH
THỰC HIỆN
ĐÁNH GIÁ
LẠI
Nhận định tình huống: Quan sát hiện trường xem có vấn đề
nguy hiểm hay không, có một người bị nạn hay nhiều người bị
nạn, tình huống xảy ra có xa hay gần trung tâm y tế, mức độ đã
được trợ giúp ra sao.
Lập kế hoạch chuẩn bị sơ cấp cứu nạn nhân.
Thực hiện theo kế hoạch sơ cấp cứu và hỗ trợ nạn nhân như: hà
hơi thổi ngạt, ép tim ngoài lồng ngực.
Đánh giá lại kết quả vừa cấp cứu xem tình trạng sức khoẻ của
nạn nhân có được cải thiện không. Thông báo cho gia đình hoặc
người thân, người giám hộ hợp pháp của nạn nhân càng sớm
càng tốt. Trấn an và giải thích cho nạn nhân được sơ cứu. Hoàn
tất thủ tục báo cáo sự việc xảy ra.
10
II. TRÌNH TỰ CẤP CỨU BAN ĐẦU
Cấp cứu ban đầu theo trình tự ABCDE
1. Airway (A): Đường thở
Trước hết cần xác định nạn nhân còn tỉnh, còn tiếp xúc được hay
không; nếu bị tắc nghẽn đường thở thì cần thực hiện ngay lập tức
các động tác sau:
Nghiêng người ghé tai sát miệng nạn nhân để xem còn thở
hay không.
Mở miệng nạn nhân kiểm tra xem có đờm dãi, dị vật hay không.
Nếu nạn nhân vẫn còn khó thở, thì cần phải kiểm tra xem có
phải do tụt lưỡi không; nếu tụt lưỡi thì phải tiến hành kéo lưỡi.
Nâng cằm, đẩy hàm giữ cho đường thở được thẳng trục.
Tiến hành thổi ngạt qua miệng hoặc mũi nếu bệnh nhân
ngừng thở.
2. Breathing (B): Hô hấp
Đánh giá rối loạn hô hấp dựa vào tần số thở, gắng sức hô hấp, xem
trên ngực có vết thương không, đặc biệt các trường hợp có thể xử trí
được ngay tại chỗ trong khi chờ đợi nhân viên y tế đến, nhất là khi:
Nạn nhân bị ngừng thở, tím tái hay đe dọa ngừng thở phải tiến
hành ngay hô hấp nhân tạo miệng - miệng hoặc miệng - mũi.
Tổn thương hở ở ngực, cần đặt ngay miếng gạc hoặc lấy quần
áo sạch, vải sạch đặt lên vết thương và băng kín để cầm máu
và hạn chế khí tràn vào khoang ngực làm nạn nhân khó thở hơn.
Tuyệt đối không lấy bỏ dị vật đang cắm trên ngực, nếu lấy bỏ
dị vật ra thì có nguy cơ chảy máu ồ ạt, làm nạn nhân có thể tử
vong nhanh chóng.
11
3. Circulation (c): Tuần hoàn
Trong khi đánh giá và xử trí tuần hoàn, luôn kiểm tra đường thở và hô
hấp. Đối với xử trí tuần hoàn, cần kiểm soát chảy máu.
Đánh giá về tuần hoàn dựa vào:
Bắt mạch cánh tay, cổ tay, mạch bẹn. Trong trường hợp cấp
cứu cơ bản ngoài cộng đồng có thể bỏ qua bước này nếu nạn
nhân suy hô hấp.
Nạn nhân có dấu hiệu lơ mơ, da xanh tái, nhợt nhạt, vã mồ hôi,
đó là dấu hiệu mất máu. Cần phải có các biện pháp can thiệp
để kiểm soát chảy máu bên ngoài, còn chảy máu bên trong cần
phải can thiệp phẫu thuật mới kiểm soát được.
Các biện pháp cầm máu đơn giản như băng ép hoặc ép chặt
vào chỗ đang chảy máu bằng quần áo hoặc băng gạc sạch vô
khuẩn, giữ nguyên đến khi nhân viên y tế đến, tuyệt đối không
bỏ tay đang giữ ép ra hoặc bỏ gạc đang giữ để thay gạc mới
sẽ làm cho máu chảy mạnh hơn và khó cầm máu.
Trường hợp nạn nhân có biểu hiện ngừng tim cần tiến hành biện
pháp hồi sinh tim phổi bằng ép tim ngoài lồng ngực (nội dung được
hướng dẫn cụ thể trong bài cấp cứu cơ bản).
4. Disability (D): Thần kinh
Cần đánh giá nhanh tổn thương hệ thần kinh theo 4 mức độ
như sau:
Mức độ 1. Nạn nhân tỉnh và giao tiếp bình thường.
Mức độ 2. Nạn nhân đáp ứng (trả lời, cử chỉ) với lời nói khi
được gọi, hỏi.
12
Mức độ 3. Nạn nhân đáp ứng với kích thích đau (chỉ áp dụng
khi hỏi không thấy trả lời: mức độ 2).
Mức độ 4. Nếu không đáp ứng với lời nói khi hỏi (mức độ 2)
hoặc kích thích đau (mức độ 3), như vậy nạn nhân đã hôn mê,
tiên lượng rất xấu, nên chuyển sớm đến cơ sở y tế để được
chăm sóc và điều trị.
Trường hợp nạn nhân không tỉnh hoặc ở mức độ 4 thì có biểu
hiện tổn thương não. Ngoài ra khi bệnh nhân đang tỉnh sau đó
rơi vào hôn mê, hoặc có thay đổi ý thức theo các mức độ như
trên thì thường là tiếp tục chảy máu hoặc thương tổn trong não
nặng lên.
Trường hợp nạn nhân có tổn thương ở đầu hay rách da, vỡ xương,
thậm chí chảy dịch não tủy hoặc hở tổ chức não,... chỉ nên dùng
gạc sạch hoặc quần áo sạch băng lên vết thương, tuyệt đối
không bôi, đắp bất cứ thuốc, hoá chất, lá cây gì, không rút dị
vật còn cắm tại đó ra.
5. Exposure (E): Lộ toàn thân
Khi sơ cứu nạn nhân đã ổn định, nên cởi bỏ quần áo nạn nhân
để đánh giá các tổn thương khác tránh bỏ sót tổn thương.
Cố định cột sống cổ nếu nghi ngờ chấn thương cột sống cổ:
Nếu nạn nhân tỉnh táo, khuyến khích họ nằm yên hoàn toàn.
Dùng nẹp cột sống chuyên dụng hoặc vật liệu có sẵn: túi cát,
vật nặng, khăn vải cuộn chặt để cố định hai bên cột sống cổ,
lưng, dùng băng keo hoặc dây để cột lại. Khi nạn nhân đã nằm
trên ván cứng có thể đặt hai bao cát ở hai bên cổ chiều dài từ
tai đến xương đòn rồi cố định bằng dây buộc ở trán, vai, cánh
chậu, gối và cổ chân.
13
Lưu ý: Đặt nạn nhân ở tư thế an toàn
Tư thế an toàn cho nạn nhân là tư thế nhằm để bảo vệ đường
thở thông thoáng.
Tất cả các nạn nhân hôn mê đều nên được đặt ở tư thế an
toàn. Không nên thay đổi tư thế nạn nhân khi nghi ngờ có chấn
thương cột sống như trường hợp chấn thương, liệt chân, đại tiểu
tiện không tự chủ.
Tư thế an toàn đối với nạn nhân hôn mê (để lưỡi không tụt về
phía sau gây tắc nghẽn hầu họng hoặc tránh sặc chất nôn vào
đường thở). Để nạn nhân nằm nghiêng, tay trên gấp, tay dưới
duỗi thẳng ra trước mặt, chân trên co, chân dưới duỗi thẳng.
Có thể dùng vải hoặc gối kê giữ nguyên bệnh nhân ở tư thế
như vậy.
Hình minh họa tư thế an toàn
14
III. GỌI CẤP CỨU
1. Yêu cầu đối với người gọi trợ giúp
Câu từ rõ ràng, ngắn gọn và chính xác. Thông tin cung cấp đầy đủ về:
Hiện trường: Vị trí, địa chỉ, đường đi,…
Tại nạn: Loại tai nạn, tính chất nghiêm trọng của tai nạn.
Nạn nhân: Số lượng, giới tính, tuổi, giờ đến cấp cứu nạn nhân,
dấu hiệu nạn nhân, những sơ cứu đầu tiên đã làm, diễn biến và
tình trạng nạn nhân,…
Các nguy hiểm khác: Khí độc, chất nổ,…
Thông tin để liên lạc: Tên của bạn, số điện thoại,…
Chỉ dừng cuộc gọi sau khi người nhận cuộc gọi đã xác nhận và
dừng cuộc gọi.
2. Nguyên tắc vận chuyển nạn nhân
Tốt nhất vận chuyển nạn nhân bằng các phương tiện chuyên dụng y
tế: Cáng, xe đẩy, xe cứu thương,… Nếu không có hỗ trợ chuyên môn
và phương tiện chuyên dụng y tế thì việc vận chuyển nạn nhân luôn
luôn phải đảm bảo đúng kỹ thuật, nhanh chóng, an toàn cho cả nạn
nhân và người vận chuyển, cụ thể như sau:
a) Chỉ được vận chuyển nạn nhân sau khi đã được sơ cứu, cấp
cứu ban đầu.
b) Chỉ chuyển nạn nhân khi đảm bảo các yếu tố an toàn: Bảo vệ
nạn nhân trong lúc di chuyển.
15
c) Bình tĩnh cân nhắc việc thực hiện ưu tiên cần làm tuỳ theo tình
trạng tổn thương của nạn nhân.
d) Việc vận chuyển được thực hiện đồng đều theo hiệu lệnh
thống nhất của người chỉ huy.
e) Theo dõi nạn nhân thường xuyên khi vận chuyển, đảm bảo
nạn nhân luôn ở tư thế an toàn nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Maconochie IK, Aickin R, Hazinski MF at al (2020); Pediatric Life
Support Collaborators. Pediatric Life Support: 2020 International Consensus on Cardiopulmonary Resuscitation and Emergency Cardiovascular Care Science With Treatment Recommendations. Resuscitation. 2020 Nov;156: A120-A155
2.
CDC, National Center for Injury Prevention and Control. WISQARS Leading Causes of Death Reports, 1981–2020. https://
wisqars.cdc.gov/fatal-leading. Published 2022. Accessed
March 15, 2022.
3.
Monroe K, Smola C, Schmit E, Jeffries K, Burks AR, Nichols M. Important Advances in Pediatric Injury Prevention. South Med J.
2022 Aug;115(8):630-634. doi: 10.14423/SMJ.0000000000001432.
PMID: 35922051.
4.
Lama Bou-Karroum, Fadi El-Jardali, Mathilda Jabbour, Aya
Harb, Racha Fadlallah, Nour Hemadi, Samar Al-Hajj; Preventing Unintentional Injuries in School-Aged Children: A Systematic
Review. Pediatrics May 2022; 149 (Supplement 6): e2021053852J.
10.1542/peds.2021-053852J
16
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
1.
Nhiệm vụ của người sơ cấp cứu phải làm gì?
2.
Nhiệm vụ của người trợ giúp cấp cứu phải làm gì?
3.
Hãy nêu nội dung cơ bản của trình tự sơ cấp cứu theo ABCDE?
4.
Mô tả cách đặt bệnh nhân bị hôn mê ở tư thế an toàn?
17
PHẦN 1
SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
BÀI 2.
CẤP CỨU CƠ BẢN
MỤC TIÊU HỌC TẬP:
1. Mô tả được các bước cấp cứu cơ bản.
2. Thực hành cách đánh giá hô hấp trong cấp cứu cơ bản.
3. Thực hành cách thổi ngạt và ép tim trong bước cấp cứu
cơ bản.
18
I. ĐỊNH NGHĨA
Cấp cứu cơ bản là việc áp dụng các kỹ thuật cấp cứu đơn giản, dù chỉ
có một người cấp cứu cũng có thể hỗ trợ được các chức năng sống
như: Hô hấp và tuần hoàn cho trẻ bị trụy tim mạch ngay cả khi không
có các thiết bị cấp cứu. Sau khi nạn nhân đã được tiếp cận an toàn,
đánh giá mức độ tri giác bằng phương pháp đơn giản, tiến hành đánh
giá và xử trí theo trình tự ABC.
II. TRÌNH TỰ THỰC HIỆN
Trình tự cấp cứu cơ bản chung cho nạn nhân là trẻ bị ngừng thở, ngừng
tim theo các bước sau:
1. Tiếp cận ban đầu: Danger, Responsive, Send for help (DRS)
Ở môi trường bên ngoài, người cấp cứu không được để mình trở
thành nạn nhân thứ hai và đứa trẻ bị tai nạn phải được thoát
khỏi sự nguy hiểm càng nhanh càng tốt. Những việc này phải
được thực hiện trước khi tiến hành đánh giá đường thở. Trong
trường hợp có một người cấp cứu, nên gọi sự hỗ trợ ngay khi
phát hiện nạn nhân không đáp ứng.
Khi có 2 người tiến hành cấp cứu thì một người sẽ làm cấp cứu cơ
bản trong khi người thứ hai gọi cấp cứu, sau đó quay lại trợ giúp
người thứ nhất và nên đổi vị trí cho nhau ít nhất 2 phút một lần
để tránh mệt mỏi. Nếu có hơn 2 người cấp cứu thì 2 người thực
hiện cấp cứu, những người còn lại sẽ phân công nhau để thực
hiện các công việc của người trợ giúp như đã nêu trong Bài 1 của
tài liệu này. Nếu chỉ có một người cấp cứu và không có sự hỗ trợ
thì người đó phải tiến hành cấp cứu cơ bản trước trong 1 phút và
sau đó tự mình gọi điện thoại. Trong trường hợp nạn nhân là trẻ
sơ sinh hoặc trẻ nhỏ, nhân viên cứu hộ có thể bế trẻ ra nơi để điện
thoại và vẫn tiếp tục làm cấp cứu cơ bản trên đường đi.
19
a) Gọi điện thoại tìm kiếm sự hỗ trợ trước
Trong một vài trường hợp, trình tự trên bị đảo ngược. Như đã
miêu tả, ở trẻ em, việc ngừng thở, ngừng tuần hoàn sẽ dẫn
đến ngừng tim nhanh chóng. Do đó, cần phải hỗ trợ ngay tức
khắc về hô hấp và ép tim ngoài lồng ngực như cấp cứu cơ
bản để có thể cứu sống trẻ. Tuy nhiên trong một vài trường
hợp, nếu tiến hành sốc điện sớm có thể cứu được tính mạng
trẻ, ví dụ, trong ngừng tim do rối loạn nhịp tim. Trong những
trường hợp đó, khi có hai người cứu hộ, một người tiến hành
cấp cứu cơ bản, còn một người gọi trung tâm cấp cứu như
đã miêu tả phía trên. Nếu chỉ có một người cứu hộ thì nên tiến
hành gọi trung tâm cấp cứu trước và tiến hành cấp cứu cơ
bản ngay sau đó.
b) Đánh giá tình trạng của trẻ bị TNTT
Đánh giá đáp ứng của trẻ bằng cách đơn giản là hỏi trẻ:
“Cháu có bị sao không” và kích thích trẻ như giữ đầu và lay
tay trẻ. Điều này sẽ tránh làm nặng lên ở những trẻ có chấn
thương cột sống cổ. Những trẻ nhỏ, nếu vì quá sợ mà không
trả lời được, vẫn có thể đáp ứng bằng cách mở mắt hoặc
kêu lên những tiếng nhỏ.
Hình 1. Nâng cằm ở trẻ lớn
20
2. Đường thở (Airway - A)
Tắc nghẽn đường thở có thể là nguyên nhân đầu tiên. Khi giải quyết
được sự tắc nghẽn này, trẻ có thể hồi phục mà không cần can thiệp
gì thêm. Trẻ không thở được có thể do lưỡi tụt về phía sau gây tắc
nghẽn hầu họng. Trong trường hợp này phải mở thông đường thở
bằng thủ thuật ngửa đầu và nâng cằm. Người cấp cứu đặt bàn tay
vào trán trẻ rồi từ từ đẩy ra phía sau. Đối với trẻ nhỏ, đặt cổ ở tư thế
trung gian, còn đối với trẻ lớn thì đặt cổ hơi ngả ra sau. Đặt ngón
tay của bàn tay còn lại dưới cằm để đẩy ra trước. Tránh gây tổn
thương phần mềm do giữ quá mạnh. Có thể dùng ngón tay cái giữ
cho miệng trẻ không ngậm lại khi tiến hành thủ thuật.
Nếu trẻ khó thở nhưng vẫn tỉnh táo thì phải đưa trẻ tới bệnh viện
càng nhanh càng tốt. Bình thường, trẻ tự tìm được một tư thế thích
hợp để duy trì sự thông thoáng đường thở. Vì vậy, không nên ép trẻ
phải ở tư thế không thoải mái.
Đánh giá sự thông thoáng đường thở bằng cách:
NHÌN di động của lồng ngực và bụng.
NGHE tiếng thở.
CẢM NHẬN hơi thở.
Người cấp cứu nghiêng đầu trên mặt trẻ, tai ở trên mũi trẻ, má trên
miệng trẻ và nhìn dọc theo lồng ngực trẻ trong vòng 10 giây.
Trong trường hợp không thực hiện được thủ thuật này hoặc có
chống chỉ định do nghi ngờ chấn thương cột sống cổ, có thể dùng
thủ thuật ấn hàm. Dùng 2-3 ngón tay đặt dưới góc hàm 2 bên và
đẩy hàm ra phía trước (được hướng dẫn trong phần thực hành).
21
Hình 2. Ấn hàm ở trẻ lớn
Đánh giá sự thành công hay thất bại của biện pháp can thiệp bằng
cách dùng kỹ năng NHÌN, NGHE và CẢM NHẬN đã mô tả trên.
Chú ý: Trong trường hợp có chấn thương, thủ thuật ngửa đầu có thể
làm nặng thêm tổn thương cột sống cổ. Trong trường hợp này, biện
pháp an toàn nhất là ấn hàm nhưng không ngửa đầu. Việc kiểm
soát cột sống cổ chỉ thực hiện được khi có người cấp cứu thứ hai duy
trì cố định cột sống cổ.
3. Thở (B)
Sau khi làm nghiệm pháp mở thông đường thở mà trẻ có nhịp thở
bình thường đặt trẻ ở tư thế phục hồi, duy trì đường thở mở, gọi hỗ
trợ hoặc đưa tới bệnh viện, trong quá trình đó vẫn tiếp tục theo dõi
trẻ. Nếu đã áp dụng các biện pháp mở thông đường thở mà trẻ vẫn
không thở lại trong vòng 10 giây thì nên bắt đầu thổi ngạt.
a) Phương pháp thổi ngạt: Thực hiện thổi ngạt 5 nhịp ban đầu.
Trong khi giữ thông thoáng đường thở, người cấp cứu tiến hành
thổi ngạt theo phương pháp miệng - miệng cho trẻ lớn hoặc cả
miệng và mũi cho trẻ nhỏ.
22
Hình 4. Thổi ngạt miệng - miệng và mũi ở trẻ nhỏ
Nếu chỉ sử dụng phương pháp miệng - miệng thì bịt mũi trẻ
bằng ngón trỏ và ngón cái của bàn tay giữ đầu trẻ. Thổi chậm
1-1,5 giây và làm cho lồng ngực di động như mức bình thường,
nếu thổi quá mạnh sẽ gây bụng chướng và tăng nguy cơ trào
ngược dịch dạ dày vào phổi. Giữa 2 lần thổi, người cấp cứu hít
thở để cung cấp được nhiều oxy cho nạn nhân hơn. Nếu không
thể che phủ được cả miệng và mũi trẻ thì người cấp cứu chỉ nên
thổi hoặc qua miệng hoặc qua mũi.
Hình 5. Thổi ngạt miệng-miệng ở trẻ lớn
23
CHỈ DẪN CHUNG VỀ THỔI NGẠT
Lồng ngực di động theo nhịp thổi ngạt.
Áp lực thổi ngạt có thể cao hơn bình thường vì đường thở nhỏ.
Nhịp thổi ngạt chậm với áp lực thấp nhất ở mức có thể được để
làm giảm chướng bụng (do hơi đi thẳng vào dạ dày).
Ấn nhẹ vào sụn giáp làm giảm khí vào dạ dày.
Nếu lồng ngực vẫn không nở thì có thể do đường thở chưa thông
thoáng, do đó phải đặt lại tư thế đầu trẻ và tiếp tục thực hiện thổi
ngạt. Nếu vẫn không có kết quả thì nên ấn hàm. Một người cấp
cứu có thể vừa ấn hàm, vừa thổi ngạt. Nếu có hai người cấp cứu
một người sẽ mở thông đường thở, một người tiến hành thổi ngạt.
Thực hiện 5 lần thổi ngạt, trong khi tiến hành cấp cứu phải chú ý
xem trẻ có ho hay có đáp ứng lại hành động của bạn hay không.
b) Ép tim ngoài lồng ngực
Đặt trẻ nằm ngửa trên mặt phẳng cứng để đạt được kết quả
tốt nhất.
Do kích thước trẻ khác nhau nên cần kỹ thuật khác nhau theo
lứa tuổi. Trẻ lớn trên 8 tuổi có thể sử dụng kỹ thuật dùng cho
người lớn và điều chỉnh cho phù hợp với kích thước của trẻ. Ép
tim sâu xuống khoảng 1/3 bề dày lồng ngực của trẻ. Vị trí ép tim
thống nhất cho mọi lứa tuổi là: Một phần hai dưới xương ức.
Trẻ nhỏ dưới 8 tuổi: Dùng gót bàn tay của một tay ép lên
xương ức ở nửa dưới xương ức, nâng các ngón tay để chắc
chắn không ấn vào xương sườn trẻ, vị trí của người thực hiện
ép tim thẳng trục với ngực đứa trẻ và cánh tay để thẳng.
24
Trẻ lớn trên 8 tuổi: Dùng cả hai tay với các ngón tay khoá lại
với nhau và ép sâu ít nhất 1/3 bề dày lồng ngực (hình 8). Ngay
sau khi đã chọn được kỹ thuật và vị trí ép tim thích hợp, phải
tiến hành ngay thủ thuật.
Hình 8. Ép tim ở trẻ nhỏ và trẻ lớn
4. Hồi sức tim phổi liên tục
Tần số ép tim cho tất cả các lứa tuổi là 100 - 120 lần/phút; tỷ lệ ép
tim: thổi ngạt là 30:2 khi có 1 người cấp cứu. Phải cấp cứu cơ bản
không ngừng cho đến khi trẻ có cử động và thở được. Ép tim nên
thực hiện động tác nhanh và mạnh, độ sâu ít nhất 1/3 bề dầy lồng
ngực với tỉ lệ ép tim 100 -120 chu kỳ/phút và không ngừng ép tim.
Tóm tắt Cấp cứu cơ bản qua sơ đồ sau:
D
Nguy hiểm?
R
Hỏi: “cháu có bị sao không”
S
Gọi người giúp đỡ
A
Mở thông đường thở
25
B
Kiểm tra hơi thở?
Thổi ngạt 5 lần nếu không thở
C
Hồi sức tim phổi (CPR)
30 ép tim: 2 lần thổi ngạt
D
Kết nối máy sốc điện (nếu có)
Chắc chắn người giúp đỡ đang đến
TIẾP TỤC CPR CHO ĐẾN KHI TRẺ CÓ ĐÁP ỨNG HOẶC
NHỊP THỞ BÌNH THƯỜNG
* CPR= Cardio Pulmonary Resuscitation = Hồi sức tim phổi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Theresa M. O, Federico S, Giuseppe R at al (2021): European
Resuscitation Council Guidelines 2021: Basic Life Support. Resuscitation ; pp. 98 - 114 https://doi.org/10.1016/j.resuscitation.2021.02.009
2.
Advanced Pediatric Life Support: The Practical Approach;
Chapter 18: “Basic life support'' Sixth Edition 2016 - pp 325-347.
3.
American Red Cross (2020) Pediatric Advanced Life Support
Participant's Manual; Printed in the United States of America
ISBN: 978-1-7337007-6-4
4.
Alexis A. Topjian, MD, MSCE, Chair at al (2020)
26
5.
Hsu A, Sasson C, Kudenchuk PJ, Atkins DL, Aziz K, Becker LB, Berg
RA, Bhanji F, Bradley SM, Brooks SC, et al. 2021 interim guidance
to health care providers for basic and advanced cardiac life
support in adults, children, and neonates with suspected or
confirmed COVID-19. Circ Cardiovasc Qual Outcomes. 2021;14:
e008396. doi: 10.1161/ CIRCOUTCOMES. 121.008396
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ
Điền vào chỗ trống ý thích hợp
Câu 1. Các bước cấp cứu cơ bản chung cho trẻ ngừng thở - ngừng
tim gồm.
A. Nguy hiểm?
B. Hỏi: ”cháu có bị sao không?”
C. Gọi người hỗ trợ
D. ............................
E. Thổi ngạt 2 lần
F. .................................
H. Kết nối máy shock điện, chắc chắn giúp đỡ đang đến.
Câu 2. Đánh giá sự thông thoáng đường thở bằng cách.
A. NHÌN:............................................
B. NGHE:............................................
C. CẢM NHẬN:.................................
27
Câu 3. Kỹ thuật thổi ngạt: (Khoanh tròn vào câu trả lời đúng nhất).
A. Lồng ngực di động theo nhịp thổi ngạt.
B. Cần thổi ngạt càng nhanh càng tốt.
C. Cần thổi ngạt càng mạnh càng tốt vì đường thở nhỏ.
Câu 4. Kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực. (Khoanh tròn vào chữ cái
câu trả lời đúng nhất)
A. Kỹ thuật ép tim như nhau với mọi lứa tuổi.
B. Độ sâu ít nhất 1/3 bề dầy lồng ngực với tỉ lệ ép tim 100 chu kỳ/
phút cho mọi lứa tuổi.
C. Nên kiểm tra lại vị trí ép tim sau mỗi lần thông khí.
Câu 5. Tư thế ép tim đúng nhất cho trẻ 15 tuổi là.
A. Vòng tay ôm ngực.
B. Hai ngón tay.
C. Một gót bàn tay.
D. Hai gót bàn tay.
28
Câu hỏi đúng/sai: Đánh dấu
CÂU
vào ô thích hợp dưới đây.
NỘI DUNG CÂU HỎI
Cấp cứu cơ bản đường thở gồm:
6
A Đối với trẻ nhũ nhi, đặt cổ ở tư thế trung
gian, còn đối với trẻ lớn thì đặt cổ hơi ngả
ra sau.
B Đánh giá sự thông thoáng đường thở bằng
cách: NGHE, NHÌN, CẢM NHẬN.
C Nếu nghi ngờ chấn thương cột sống cổ
cần dùng thủ thuật ấn hàm.
D Có thể dùng tay lấy dị vật cho trẻ nếu nhìn thấy.
Kỹ thuật thổi ngạt gồm:
A Tiến hành khi trẻ không thở lại trong 10s dù
đã được mở thông đường thở.
7
B Cần thổi ngạt 2 lần miệng - miệng hoặc
miệng - mũi.
C Thổi ngạt/ép tim = 30/2.
D Nhịp thổi ngạt càng nhanh càng tốt.
Kỹ thuật ép tim ngoài lồng ngực gồm:
A Đặt trẻ nằm ngửa trên mặt phẳng cứng để
đạt được kết quả tốt nhất.
8
B Vị trí ép tim thống nhất cho mọi lứa tuổi là:
một phần hai dưới xương ức.
C Cấp cứu cơ bản không ngừng cho đến khi
D trẻ có cử động và thở được.
Việc ép tim không cần thiết sẽ gây hại cho
bệnh nhân.
29
PHẦN 1
SƠ CẤP CỨU BAN ĐẦU
BÀI 3.
GÃY XƯƠNG
MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Nguyên nhân và phân loại gãy xương.
2. Trình bày các triệu chứng của gãy xương.
3. Thực hiện được cách xử trí ban đầu gãy xương.
30
1. ĐỊNH NGHĨA
Gãy xương là tình trạng mất đi tính liên tục của xương, có thể biểu hiện
dưới nhiều hình thức khác nhau, từ một vết rạn cho đến gãy xương
hoàn toàn.
2. NGUYÊN NHÂN
Gãy xương thường là do tác động của một lực vào xương, hoặc
ở xa chỗ đó. Do đó có thể là gãy xương trực tiếp hoặc gián tiếp.
Gãy xương trực tiếp: Ít gặp, đường gãy thường cắt ngang qua
xương và ổ gãy ở ngay vùng bị tác động, thường bao gồm các
thương tổn ở các phần mềm. Các xương bị gãy trực tiếp là các
xương ở nông ngay dưới da.
Gãy xương gián tiếp: Thường gây ra do gấp xương, xoắn xương,
do ép hoặc co cứng cơ và ổ gãy có thể ở xa nơi bị lực tác động vào.
3. PHÂN LOẠI
Gãy xương được chia làm 2 loại chính: Gãy xương kín và gãy xương hở
và cả 2 đều có thể là gãy xương biến chứng.
Gãy xương kín: Tổ chức da ở vùng xung quanh ổ gãy không bị tổn
thương hoặc có tổn thương nhưng không thông với ổ gãy.
Gãy xương hở: Tổn thương ở bề mặt da có thông với ổ gãy hoặc
có đầu xương lồi ra ngoài. Gãy xương hở là một tổn thương nghiêm
trọng vì nó không những gây chảy máu mà còn gây nên những biến
chứng nhiễm khuẩn nặng nề.
Gãy xương biến chứng: Cả gãy xương hở và gãy xương kín đều
được coi là gãy xương biến chứng khi kèm theo tổn thương dây thần
kinh, mạch máu hay tổ chức cơ quan nào đó.
31
4. TRIỆU CHỨNG
Cơ năng: Thường gặp đau và hạn chế vận động, sưng nề sau đó
bầm tím ở vùng chấn thương.
Thực thể:
So sánh chi gãy với chi lành, nhận thấy sự biến dạng: Sưng, tụ
máu, gãy góc, xoắn vặn, chi ngắn,…
Đau chói khi nắn ngón tay vào chỗ gãy.
Di động bất thường và tiếng xương lạo xạo là dấu hiệu điển hình
của gãy xương. Tuy nhiên chỉ nên tìm hai dấu hiệu này khi chẩn
đoán chưa rõ và thăm khám phải rất nhẹ nhàng, thận trọng.
(Không được cố gắng tìm dấu hiệu này vì làm bệnh nhân rất đau).
Tổn thương phối hợp như tổn thương mạch máu và thần kinh:
Đầu chi lạnh, không cảm giác, không vận động được.
Có thể có triệu chứng của sốc khi bị gãy xương hở, gãy xương
chậu, xương đùi và đa chấn thương.
Chú ý: Không phải tất cả các trường hợp gãy xương đều có những
dấu hiệu và triệu chứng trên. Để tìm ra những dấu hiệu của gãy xương
phải chủ yếu dựa vào quan sát. Không di động bất kì bộ phận nào
của cơ thể nếu không cần thiết.
Nếu có sự kết hợp của 2 hay 3 triệu chứng kể trên hoặc bệnh nhân có
biểu hiện sốc hoặc nếu có nghi ngờ chấn thương nặng thì xử trí như
một trường hợp gãy xương.
32
5. XỬ TRÍ
5.1. Mục đích
Hạn chế di lệch của đầu xương gãy, giảm đau, phòng sốc và các
tổn thương thứ phát khác tại vùng tổn thương.
5.2. Xử trí
Gọi cấp cứu y tế.
Đánh giá và xử trí các vấn đề về đường thở, thở và tim mạch
đặc biệt trong các trường hợp gãy xương hở, xương chậu,
xương đùi, đa chấn thương,…
Tuyệt đối không vận động phần chi bị tổn thương nếu không
cần thiết.
Băng kín các vết thương nếu có. Kiểm soát chảy máu.
Cố định tạm thời xương gãy bằng nẹp hoặc băng ép.
Nâng cao chi bị gãy sau khi cố định để giảm sưng nề.
Thường xuyên theo dõi bệnh nhân về tình trạng toàn thân.
5.3. Nguyên tắc cố định xương gãy
Nẹp sử dụng phải đảm bảo đủ độ dài, rộng và vững chắc. Nẹp
có thể làm bằng gỗ, tre, thanh kim loại,…
Không đặt nẹp trực tiếp lên da thịt nạn nhân, phải có đệm lót ở
đầu nẹp, đầu xương. Có thể lấy bông hoặc vải để làm đệm lót
(không cởi quần áo, cần thiết rạch quần áo).
Cố định trên và dưới vị trí xương gãy 1 khớp. Với gãy xương đùi
phải bất động được 3 khớp.
33
Trường hợp gãy kín đặc biệt gãy xương đùi phải kéo liên tục
bằng một lực không đổi.
Trường hợp gãy hở: Không ...
 





